Có lẽ là 1 tác phẩm bị dân mình bỏ quên! Xin trích một đoạn để mọi người tham khảo.
Tiều rằng : Xin hỏi tiên sinh,
lệ trong năm tạng, ghi hình trạng sao ?
Dẫn rằng : Tổ có lời rao :
Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.
Sắc xanh, con mắt là chừng,
Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.
Giấu hồn, đựng máu, tiếng kêu,
Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.
Trích
Ngư rằng : Kinh lạc là tiêu,
Chỗ nào khí huyết ít nhiều biết đâu.
Dẫn rằng : Khí huyết nhân khu,
Ta từng coi sách, thấy câu ca rằng :
Thập nhị kinh lạc khí huyết đa thiểu ca
(Bài ca về khí huyết nhiều ít của mười hai kinh lạc)
Dịch nghĩa :
Nhiều khí, nhiều huyết, anh nên nhớ :
Kinh Thủ Dương minh tức ruột già, và
Kinh Túc Dương minh tức dạ dày.
Ít huyết, nhiều khi, có sáu kinh :
Tam tiêu, mật, thận, tim, lá lách, và phổi.
Nhiều huyết, ít khí chia ra bốn kinh :
Bọng đái, ruột non, màng tim và gan.
Ngư rằng : Kinh lạc nhiều đàng,
Người đau nhiều chứng, biết toan lẽ nào ?
Dẫn rằng : Chớ hỏi thầy cao,
bệnh nào thuốc nấy đem vào đường kinh.
Tiều rằng : Xin hỏi tiên sinh,
lệ trong năm tạng, ghi hình trạng sao ?
Dẫn rằng : Tổ có lời rao :
Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.
Sắc xanh, con mắt là chừng,
Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.
Giấu hồn, đựng máu, tiếng kêu,
Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.
Quyết âm kinh túc ấy truyền,
Hợp cùng phủ đảm, ngôi liền ngoài trong.
Tạng tâm thuộc hoả, mạch Hồng,
Mùa hè, sắc đỏ, chừng trong lưỡi này.
Giấu thần, nuôi máu, ở đây,
Đắng mùi, tiếng nói, nước vầy buồn hôi.
Thiếu âm kinh thủ phải rồi,
Hợp cùng ngoại phủ, rằng ngôi tiểu trường.
Tạng tỳ thuộc thổ sắc vàng,
Vượng theo tứ quý, đều tàng ý vui.
Miệng chừng, nước dãi, ngọt mùi,
Tiếng ca, mạch Hoãn, hay nuôi thịt hình.
Thái âm kinh túc đã đành,
Hợp cùng phủ vị, ngôi giành trung châu.
Tạng phế thuộc kim, mạch Phù,
Vị cay, sắc trắng, mùa thu, phách ròng.
Giấu hơi, nuôi khắp da, lông,
Mùi chừng, tiếng khóc, nước trong mũi thường.
Thái âm kinh thủ cho tường,
Hợp cùng ngoại phủ đại trường ấy thông .
Tạng thận thuộc thủy, mùa đông,
Sắc đen vị mặn, chi dùng nuôi xương,
Tiếng rên, nước nhỏ hôi ươn,
Hai tai chừng đó, giữ phương mạch Trầm.
Phần về kinh Túc Thiếu âm,
Hợp bàng quang phủ, gìn cầm hóa nguyên.
Tiều rằng : Năm tạng đã biên,
Kìa như sáu phủ, xin liền nói ra.
Dẫn rằng : Cái mật người ta,
Tượng theo xuân mộc, kinh là thiếu dương.
Đảm ngoài làm phủ cho can,
Tóm vào muôn mối, việc toan lo lường.
Mấy chiều ruột nhỏ tiểu trường,
Tượng theo hạ hỏa, thái dương kinh cầm.
Ở ngoài làm phủ cho tâm,
Nước trôi đem xuống đặng dầm nguồn sinh.
Vị là kinh Túc Dương minh,
Đựng theo đất chứa, việc mình uống ăn,
Bao nhiêu nước, xác chứa ngăn,
Phát ra các chỗ, chịu bằng quan ty.
Ở ngoài làm phủ cho tỳ,
Cái bao tử ấy thật ghi công dày.
Đại trường ruột lớn liền đây,
Dương minh kinh thủ, tượng vầy thu câm (kim).
Ngôi theo nhờ phế hơi cầm,
Vật ăn bã xác xuống hầm phẩn ra,
Bàng quang thật bọng đái ta,
Tượng theo đông thủy, kinh là thái dương.
Ngôi theo ngoài chốn thận hương,
Hóa hơi nước xuống, làm đường niệu tân.
Tam tiêu phủ ấy ba tầng,
Kiêm trên, giữa, dưới, gọi rằng tam tiêu.
Trên thâu ăn uống, nạp nhiều,
Giữa chia trong đục, dưới điều gạn ra.
Làm đường nước xác trải qua,
Nhờ ba hơi ấy tiêu hòa máu, hơi.
Trước sau bủa khắp ba hơi,
Thiếu dương kinh thủ thật nơi dinh người.
Tiều rằng : Kinh lạc mười hai,
Tạng phủ mười một biết hài thế sao ?
Dẫn rằng : Trước có lời rao :
Quyết âm kinh thủ, tâm bào lạc nêu.
Tâm bào cùng phủ tam tiêu,
Trong ngoài hai ấy chia đều âm, dương.
Muốn làm thầy đặng chữ "lương",
Bệnh trong tạng phủ phải lường thực hư.
Rồi đây hỏi lại Nhân Sư,
Xin phân chứng thực, chứng hư cho rành.
Ngư rằng : Kìa bến Ngũ Hành,
Chia ra nẻo khắc, nẻo sinh làm gì ?
Dẫn rằng : Trên, dưới hai nghi,
Có năm hành ấy, hoa ky (cơ) xây vần.
Mộc, kim, thủy, hỏa, thổ phân,
Sinh : phần ấy tốt, khắc : phần ấy hư.
Muốn cho rõ lẽ nên hư,
Coi lời sinh khắc tổ sư ca rằng:
Ngũ hành tương sinh ca
(Bài ca về ngũ hành tương sinh)
Dịch nghĩa :
Mộc sinh hỏa chừ, hỏa sinh thổ,
Thổ sinh kim chừ, kim sinh thủy,
Thủy sinh mộc chừ, năm mối sinh,
Trong khoảng trời đất đều tốt lành.
Ngũ hành tương khắc ca
(bài ca về ngũ hành tương khắc)
Dịch nghĩa :
Mộc khắc thổ chừ, thổ khắc thủy,
Thủy khắc hỏa chừ,hỏa khắc kim,
Kim khắc mộc chừ, năm mối khắc,
Trong khoảng trời đất thảy tai ương.
Ai mà rõ lẽ ngũ hành,
Việc trong trời đất dữ lành trước hay.
Trên thời mưa móc, gió mây,
Dưới thời non nước, cỏ cây muôn loài.
Giữa thời nhà cửa, đền đài,
Năm hành tóm việc ba tài nhỏ to.
Ví dù tạo hóa mấy lò,
Hóa công mấy thợ, một pho ngũ hành.
Muốn coi phép ấy cho tinh,
Đồ thư Hà Lạc, Dịch kinh rõ bàn.
Ngư rằng : Nơi ải Thiên Can,
Có non Ngũ Vận để toan việc gì ?
Chưa hay chủ vận là chi ?
Lại thêm khách vận, sách ghi rộn ràng ?
Dẫn rằng : Mười chữ thiên can,
Anh em thứ lớp, rõ ràng chẳng sai.
Anh em một gái, một trai,
Âm dương chia khác, lâu đài năm phương,
Giáp, Ất: mộc, ở đông phương,
Bính, Đinh: hỏa, ở nam phương tỏ tường.
Mậu, Kỷ: thổ, ở trung ương,
Canh, Tân: kim, ở tây phương ấy thường.
Nhâm, Qúy : thủy, ở bắc phương,
Đều rằng chủ vận, sử đương việc trời.
Năm ngôi chủ vận chẳng dời,
Ngôi nào theo nấy, có lời thơ xưa.
Chủ vận thi
(Bài thơ về chủ vận)
Dịch nghĩa :
Mộc vận bắt đầu từ tiết Đại hàn ;
Hỏa vận bắt đầu từ ba ngày trước tiết Thanh minh;
Thổ vận bắt đầu từ ba ngày sau tiết Mang chủng;
Kim vận bắt đầu từ sáu ngày sau tiết Lập thu ;
Thủy vận bắt đầu từ chín ngày sau tiết Lập đông;
Hết vòng rồi trở lại từ đầu, muôn năm vẫn như vậy.
Năm nhà đều có túc duyên,
Vợ chồng phối hợp, tách miền theo nhau.
Anh Giáp, chị Kỷ cưới nhau,
Hóa ra vận thổ, trước sau chẳng lầm.
Ất, Canh hợp lại hóa câm,
Đinh, Nhâm hợp lại hóa trầm mộc cây.
Bính, Tân hòa thủy nước đầy,
Anh Mồ, chị Quý hóa vầy hỏa quang.
Muốn coi năm hóa tạo đoan.
Gọi rằng khách vận, này chàng nghe thơ.
Khách vận thi
(Bài thơ về khách vận)
Dịch nghĩa :
Giáp Kỷ hóa ra thổ, Ất Canh hóa ra Kim,
Đinh Nhâm hóa ra mộc, tất cả thành rừng,
Bính tân hóa ra thủy, chảy đi cuồn cuộn,
Mậu Quý hóa ra hỏa, bốc lên thành ngọn lửa ở phương Nam.
Kể từ năm ấy hóa ra,
Làm năm vận khách xây mà theo niên.
Trọn mười hai tháng một niên,
Noi theo khách vận, thay phiên đi liền.
Giả như Giáp, Kỷ chi niên,
Hóa ra hành thổ, thật truyền vận sơ.
Thổ sinh kim ấy vận nhi,
Kim sinh thủy ấy, lại trì vận ba.
Thủy sinh mộc, vận thứ tư,
Mộc sinh hỏa vận, luận từ năm nay.
Mỗi vận bảy mươi hai ngày,
Lại dư năm khắc, cứ vầy tính qua.
Lấy năm Giáp, Kỷ suy ra,
Bao nhiêu năm nữa đều là như đây.
Lại xem vận khách đổi xây,
Thái quá bất cập, lẽ này cho minh.
Năm Giáp, Bính, Mậu, Nhâm, Canh,
Thật năm thái quá, đã đành dương phân.
Năm Đinh, Ất, Kỷ, Qúy, Tân,
Thật năm bất cập, về phần âm can,
Thái quá trước tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn, giao bàn tiên thiên.
Bất cập sau tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn giao bàn hậu thiên.
Cho hay trời có hậu, tiên,
Mười can trên dưới, liền liền xây đi.
Ngư rằng : Kìa ải Địa Chi,
Có non Lục Khí, đường đi lộn nhầu.
Chưa hay chủ khí ở đâu,
Lại thêm khách khí, để âu việc gì ?
Dẫn rằng : Trong ải Địa Chi,
Có mười hai chữ, thứ đi xây vần.
Dần, Mão thuộc mộc, mùa xuân,
Tỵ, Ngọ thuộc hỏa, ở chưng mùa hè.
Mùa thu Thân, Dậu, kim khoe,
Mùa đông Hợi, Tý, nước be dũng tuyền.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi : đất liền,
Vượng theo tứ quý, chở chuyên bốn mùa.
Vậy nên sáu khí ấn bùa,
Khí phong thứ nhất, thổi lùa gió xuân,
Thứ hai, khí hỏa lửa phừng,
Thứ ba, khí thử nóng hừng viêm oai,
Thứ tư, khí thấp ướt bày,
Thứ năm, khí táo ráo bay hơi nồng,
Thứ sáu là khí hàn chung,
Sắp ra thứ lớp, giữ trong bốn mùa.
Kêu rằng chủ khí bốn mùa,
Có bài thơ cổ, để tua thuộc lòng.
Chủ khí thi
(Bài thơ về chủ khí)
Dịch nghĩa :
Khí đầu tiên là khí Quyết âm (phong mộc) bắt đầu từ tiết Đại hàn.
Khí thứ hai là khí quân hỏa, bắt đầu từ tiết Xuân phân.
Khí thứ ba là là khí Thiếu dương (tướng hỏa), bắt đầu từ tiết Tiểu mãn.
Khí thứ tư là khí thái âm (thấp thổ), bắt đầu từ tiết Đại thử.
Khí thứ năm là khí Dương minh (táo kim), bắt đầu từ tiết Thu phân.
Khí thứ sáu là khí Thái dương (hàn thủy), bắt đầu từ tiết Tiểu tuyết.
...
Download toàn thây ở ĐÂY
4/2/10
Ngư tiều y thuật vấn đáp
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
0 Nhận xét:
Đăng nhận xét
Hãy comment theo cách của bạn
[▼/▲] More Emoticons